Văn hóa doanh nghiệp

Trong công sở, chúng ta hay đề cập đến khái niệm văn hóa doanh nghiệp, và mỗi môt cá nhân, mỗi một bộ phận lại có một góc nhìn khác nhau về văn hóa doanh nghiệp. Và nhiều khi không tránh khỏi những biến tướng về văn hóa doanh nghiệp. Nhiều tình huống xảy ra đại loại như ” Anh làm như vậy ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp”, ” Chú phải giữ hình ảnh của mình, của công ty”….

 

Trăm người, mười ý nhưng chúng ta đến với một tổ chức thì tất cả các cá nhân, phòng/bộ phận buộc phải thống nhất một cách hiểu về văn hóa doanh nghiệp của tổ chức đó, công ty đó.

 

Có một phương pháp người ta hay dùng là phương pháp thống kê kinh nghiệm, tham khảo những cái chung. Với bài toán văn hóa doanh nghiệp cũng như thế, để đi đến thống nhất cách hiểu, chúng ta nên tham khảo cái chung nhất về văn hóa, văn hóa doanh nghiệp, sau đó gán với giá trị của công ty mình để thống nhất cách hiểu.

 

Trước khi đề cập đến khái niệm Văn hóa doanh nghiệp, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm về Văn hóa.

 

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Văn hóa, dựa trên nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Tuy nhiên khái niệm chung nhất được hiểu như sau:

 

Văn hoá là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

Định nghĩa này hàm chỉ một hệ toạ độ ba chiều mà trong đó văn hoá tồn tại: con người là chủ thể văn hoá; môi trường tự nhiên và xã hội là không gian văn hoá; quá trình hoạt động là thời gian văn hoá. Việc cụ thể hoá ba thông số của hệ toạ độ này sẽ cho ta những nền văn hoá khác nhau.

Định nghĩa này còn chứa đựng bốn đặc trưng thỏa mãn yêu cầu cần và đủ để phân biệt văn hóa với những khái niệm, hiện tượng có liên quan. Đó là Tính hệ thống, Tính giá trị, Tính nhân sinh, và Tính lịch sử. Bốn đặc trưng này chính là cơ sở cho phép nhận diện “chất văn hoá” ở một đối tượng nghiên cứu.

1.2. Bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa

1- Tính hệ thống của văn hóa

Mọi sự vật, khái niệm quanh ta tự thân đều là những hệ thống. Tuy nhiên, văn hoá như một hệ thống lại quá phức tạp, đến mức tính hoàn chỉnh của nó thường bị che lấp bởi các thành tố bộ phận.

Nhiều định nghĩa lâu nay coi văn hóa như phép cộng của những tri thức rời rạc từ nhiều lĩnh vực. Định nghĩa văn hóa của E.B. Taylor (1871) cũng thuộc loại này: văn hoá = một “phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục…”.

Do vậy, cần thiết nhấn mạnh đến TÍNH HỆ THỐNG của văn hóa. Cần xem xét mọi giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị văn hoá.

2- Tính giá trị của văn hóa

Song, không phải mọi hệ thống đều là văn hóa mà chỉ có những hệ thống giá trị mới là văn hóa. Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái tốt, cái đẹp. Nó là thước đo mức độ nhân bản của con người.

Cuộc sống là quá trình tìm kiếm các giá trị để thoả mãn các nhu cầu. Giá trị là kết quả thẩm định dương tính của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định (như “đúng-sai”, “tốt-xấu”, “đẹp-xấu”…).

Vạn vật đều có tính hai mặt, đồng thời chứa cả cái giá trị và phi giá trị. Ngay cả những hiện tượng tưởng như xấu xa tồi tệ nhất như ma tuý, mại dâm, chiến tranh, chửi nhau… cũng có những mặt giá trị của nó. Và ngay cả những hiện tượng tưởng như tốt đẹp nhất như thành tựu y học, thuỷ điện… cũng có những mặt phi giá trị của nó.

Do vậy, giá trị là khái niệm có tính tương đối. Nó phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian. Vì vậy, muốn xác định được giá trị của một sự vật (khái niệm) thì phải xem xét sự vật (khái niệm) trong bối cảnh “không gian – thời gian – chủ thể” cụ thể, trong mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” trong nó.

Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất giúp đi sâu vào bản chất của khái niệm văn hóa. Nó cho phép phân biệt văn hóa với cái phi văn hóa, vô văn hoá; phân biệt văn hoá thấp với văn hoá cao; phân biệt văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng. Nhờ tính giá trị, ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.

3- Tính nhân sinh của văn hóa

Văn hóa là sản phẩm của con người. Văn hóa và con người là hai khái niệm không tách rời nhau. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời chính bản thân con người cũng là một sản phẩm của văn hóa.

Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không có sẵn trong bản thân sự vật (hiện tượng) mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị biểu trưng. Tính nhân sinh kéo theo tính biểu trưng của văn hoá.

Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá với tự nhiên. Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, là một “tự nhiên thứ hai”.

4- Tính lịch sử của văn hóa

Tự nhiên được biến thành văn hóa là nhờ có hoạt động xã hội – sáng tạo của con người. Nhờ có hoạt động này mà các giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá. Bản thân các hoạt động cũng chính là các giá trị văn hoá. Sự tích lũy các giá trị tạo nên đặc điểm thứ ba của văn hoá là tính lịch sử.

Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hoá.

Tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn minh như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định.

1.4. Khái niệm Văn hoá doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp không chỉ giới hạn đơn thuần trong phạm trù văn hoá tổ chức, hay trong cặp quan hệ “văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá”. Văn hoá doanh nghiệp là một tiểu văn hoá (subculture).

Văn hoádoanh nghiệp là một hệ thống của các giá trị do doanh nghiệpsáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên của mình.

Là một tiểu văn hoá, nó cũng có đầy đủ các đặc trưng và được xác lập trong một Hệ toạ độ:

Tính hệ thống: cho thấy tính tổ chức của doanh nghiệp, phân biệt một doanh nghiệp có văn hoá với một doanh nghiệp chỉ có tập hợp giá trị.

Tính giá trị: khu biệt một doanh nghiệp có văn hoá với một doanh nghiệp phi văn hoá. Giá trị văn hoá của doanh nghiệp có giá trị nội bộ; giá trị vùng; giá trị quốc gia; giá trị quốc tế. Doanh nghiệp càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho những cộng đồng càng rộng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu.

Tính nhân sinh: đây là đặc trưng cơ bản về chủ thể cho phép phân biệt văn hoá doanh nghiệp với các tiểu văn hoá khác. Chủ thể văn hoá ở đây không phải con người nói chung, mà là doanh nghiệp như một loại chủ thể văn hoá đặc biệt (bên cạnh văn hoá làng xã, văn hoá đô thị, văn hoá cơ quan…). Đặc biệt vì có doanh nghiệp gia đình; doanh nghiệp vùng; doanh nghiệp dân tộc, quốc gia; lại có cả doanh nghiệp đa/xuyên quốc gia.

Tính lịch sử (thời gian văn hoá): Quá trình hoạt động kinh doanh.

Không gian văn hoá: Môi trường xã hội: khách hàng, bạn hàng / đối tác. Môi trường tự nhiên: nơi tồn tại và hoạt động, nơi cung cấp nguyên liệu.

1.4. Các chức năng của văn hoá và Văn hoá doanh nghiệp

Bốn đặc trưng trên là cần và đủ không chỉ cho việc làm căn cứ để định nghĩa văn hoá mà còn để xác định các chức năng của văn hoá và văn hoá doanh nghiệp.

 

Đặc trưng VH

Chức năng VH

Chức năng VHDN

Tính hệ thống

Tổ chức xã hội

Tổ chức doanh nghiệp

Tính giá trị

Điều chỉnh xã hội

Điều chỉnh doanh nghiệp

Tính nhân sinh

Giao tiếp

Làm cơ sở giao tiếp trong và ngoài doanh nghiệp

Tính lịch sử

Giáo dục

Giáo dục- đào tạo trong doanh nghiệp

Là cơ sở cho sự tồn tại ổn định
và bền vững của chủ thể (dân tộc)

Làm cơ sở cho sự thành công bền vững của doanh nghiệp

 

Các đặc trưng và chức năng khác (chức năng nhận thức, chức năng giải trí, v.v.) đều phái sinh từ 4 đặc trưng và chức năng cơ bản này.

1.5. Cấu trúc của văn hoá và Văn hoá doanh nghiệp

Định nghĩa văn hoá nêu trên cho phép nhận diện văn hoá, phân biệt văn hoá với những khái niệm có liên quan, nhưng chưa cho ta thấy được các bộ phận cấu thành của nó.

Về mặt cấu trúc, văn hoá có thể xét từ góc độ động thái và tĩnh trạng.

* Từ góc độ động thái (dinamique), văn hoá là một hệ thống bao gồm ba thành tố là giá trị của con người/tổ chức cùng các thuộc tính và năng lực của nó; giá trị của các hoạt động, quan hệ của con người; giá trị của các sản phẩm do con người tạo ra. Đó là một bộ ba: chủ thể – hoạt động – sản phẩm.

Trong văn hoá doanh nghiệp, đó là một hệ giá trị bộ ba:

GIÁ TRỊ CỦA DOANH NGHIỆP: tổ chức của doanh nghiệp, truyền thống của doanh nghiệp, triết lý và kinh nghiệm của doanh nghiệp, các nhân tài của doanh nghiệp…

GIÁ TRỊ CỦA HOẠT ĐỘNG:

Để đảm bảo có lời, đặc điểm của hoạt động kinh doanh là phải dự đoán trước được kết quả. Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm tinh thần (như phát minh khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật) mang tính ngẫu nhiên và mơ hồ, không dự đoán trước được (về chi phí thời gian, tiền bạc, kết quả, giá trị…), nên không thuộc phạm trù kinh doanh (phân biệt hoạ sĩ sáng tác và thợ chép tranh).

Các loại hoạt động kinh doanh xét theo công đoạn thì có: đầu tư, sản xuất, tiếp thị, tư vấn, lưu thông, phân phối, bảo hành; xét theo nhóm loại thì có: sản xuất, thương mại và dịch vụ. Kinh doanh sản xuất và dịch vụ luôn tạo ra giá trị. Kinh doanh thương mại đặt hàng hoá vào những hệ toạ độ mới, làm dịch chuyển giá trị, thay đổi giá trị, do vậy cũng tạo ra giá trị. Những hoạt động này, mỗi doanh nghiệp có những cách thức riêng, tạo nên những giá trị đặc thù của doanh nghiệp.

Trong ba hình thức kinh doanh trên thì thương mại là hình thức hoạt động kiếm lời xuất hiện sớm nhất. Cũng bởi vậy mà nói đến kinh doanh người ta thường nghĩ ngay đến thương mại và thường đồng nhất chúng với nhau.

GIÁ TRỊ CỦA SẢN PHẨM: sản phẩm của mỗi doanh nghiệp có đặc thù riêng. Những hình thức kinh doanh nào càng liên quan nhiều đến con người thì cái đặc thù tạo nên văn hoá riêng này càng rõ nét. Sản xuất < Thương mại < Dịch vụ.

* Từ góc độ tĩnh trạng (statique), văn hoá là một hệ thống quy định bởi một loại hình văn hoá nhất định, bao gồm ba thành tố là văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức và văn hoá ứng xử.

Văn hoá nhận thức xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người; còn xét theo mức độ thì bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính.

Văn hoá tổ chức cộng đồng xét theo đối tượng tổ chức thì bao gồm văn hoá tổ chức đời sống tập thể và văn hoá tổ chức đời sống cá nhân.

Văn hoá ứng xử xét theo đối tượng ứng xử thì bao gồm ứng xử với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội.

 

 

 

Trong mỗi thành tố ấy đã có tính đến quan hệ bộ ba: chủ thể – hoạt động – sản phẩm.

Đối với doanh nghiệp, cấu trúc văn hoá này được cụ thể hoá như sau:

Văn hoá nhận thức

Nhận thức khái quát

Triết lý kinh doanh, đạo đức, trách nhiệm… của doanh nghiệp

Nhận thức chuyên sâu

Các kinh nghiệm kinh doanh và tri thức nghề nghiệp mà doanh nghiệp tích luỹ được

Nhận thức cảm tính

Tín ngưỡng (tổ nghề, giỗ tổ…) và những quan niệm mang tính  tín ngưỡng (huyền thoại…)

Văn hoá tổ chức

Tổ chức đời sống tập thể

Văn hoá quản lý trên mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp

Tổ chức đời sống cá nhân

TC đời sống vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại) và tinh thần (vui chơi, giải trí, thông tin…)

Văn hoá ứng xử

Ứng xử với MT xã hội

Ứng xử với khách hàng, bạn hàng, đối tác… và cộng đồng cư dân nơi cư trú

Ứng xử với MT tự nhiên

Ứng xử với MT tự nhiên nơi cư trú, với nguồn nguyên nhiên liệu

 

About Trần Tân HR

Chuyên gia quản trị nguồn nhân lực
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s